Tác giả - Tác phẩm
Tác giả Nguyễn Tuân
- Nguyễn Tuân (1910-1987), quê ở làng Mọc, Hà Nội (nay là phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội).
- Là nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại, được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (1996).
- Phong cách: tài hoa uyên bác, độc đáo và cá tính; nhìn sự vật ở phương diện thẩm mỹ, văn hoá; miêu tả con người ở phương diện nghệ sĩ; ngôn ngữ giàu hình ảnh, chữ nghĩa cầu kỳ, sử dụng vốn từ vựng phong phú từ nhiều ngành nghệ thuật.
Tác phẩm Người lái đò sông Đà
- Hoàn cảnh sáng tác: in trong tập tuỳ bút Sông Đà (1960), kết quả chuyến đi thực tế Tây Bắc của Nguyễn Tuân năm 1958-1960. Đây là giai đoạn Nguyễn Tuân tìm cảm hứng từ vẻ đẹp thiên nhiên đất nước và con người lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Thể loại: Tuỳ bút.
- Tóm tắt nội dung: Bằng vốn kiến thức uyên bác và bút pháp tài hoa, Nguyễn Tuân khắc hoạ hai vẻ đẹp đối lập của sông Đà - hung bạo và trữ tình. Trên nền thiên nhiên dữ dội ấy, hình tượng ông lái đò hiện lên như một nghệ sĩ tài hoa, dũng cảm chinh phục con sông qua các thác ghềnh hiểm trở.
Bố cục
- Phần 1: Vẻ đẹp hung bạo của sông Đà (đá bờ sông, ghềnh Hát Loóng, hút nước, thạch trận ba trùng vi).
- Phần 2: Cuộc vượt thác của ông lái đò - thiên anh hùng ca của con người lao động.
- Phần 3: Vẻ đẹp trữ tình của sông Đà - sông như "cố nhân", "tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình".
Soạn bài chi tiết (Hay nhất)
Câu 1: Phân tích hình tượng sông Đà hung bạo
Trả lời:
Nguyễn Tuân khắc hoạ sông Đà hung bạo qua nhiều góc nhìn, sử dụng vốn ngôn ngữ giàu hình ảnh từ nhiều ngành nghệ thuật.
Đá bờ sông: "dựng vách thành", có quãng "lòng sông hẹp như cái yết hầu", "mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời" - biện pháp so sánh, miêu tả không gian hùng vĩ, hiểm trở.
Ghềnh Hát Loóng: "nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò nào tóm được qua đấy" - phép điệp + nhân hoá biến ghềnh thành một sinh thể đầy ác ý.
Hút nước: "thở và kêu như cửa cống cái bị sặc", "ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào" - hai so sánh khác lạ, lấy từ cuộc sống hàng ngày để gợi tả âm thanh khủng khiếp.
Thác đá: "tiếng nước thác nghe như là oán trách, lại như là van xin, lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo" - dùng biện pháp nhân hoá liên tiếp, ngôn ngữ kịch tính, đầy mâu thuẫn.
Thạch trận ba trùng vi: Nguyễn Tuân dùng kiến thức về binh pháp, võ thuật để miêu tả mặt trận đá trên sông Đà:
- Trùng vi 1: mở năm cửa, bốn cửa tử một cửa sinh; sóng đánh đòn hông, đòn dưới như đô vật.
- Trùng vi 2: tăng cửa tử, cửa sinh ở bờ hữu ngạn; "dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá".
- Trùng vi 3: "bên phải bên trái đều là luồng chết cả", "cửa sinh ở giữa".
→ Sông Đà hiện lên như một "kẻ thù số một của con người" - vừa hung tợn vừa nham hiểm, có cá tính riêng.
Câu 2: Phân tích hình tượng sông Đà trữ tình
Trả lời:
Đối lập với vẻ hung bạo, sông Đà còn có vẻ đẹp trữ tình tuyệt mỹ - được Nguyễn Tuân miêu tả qua nhiều góc nhìn.
Nhìn từ trên cao (máy bay): sông Đà "tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai". Phép so sánh độc đáo - sông Đà như một mỹ nhân tóc dài uyển chuyển. "Áng" - lượng từ chỉ tác phẩm văn chương - gợi vẻ đẹp như tác phẩm nghệ thuật.
Màu nước biến đổi theo mùa:
- Mùa xuân: "dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm Sông Lô"
- Mùa thu: "lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa"
→ Mỗi mùa một sắc thái, mỗi sắc đều tinh tế, đều là sáng tạo ngôn ngữ của Nguyễn Tuân.
Bờ sông Đà: "bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông Đà" - đoạn điệp ngữ tạo nhịp êm ái như câu thơ. Cảnh hai bên bờ sông gợi cảm giác cổ kính: "bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử... hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa".
Sông Đà như "cố nhân": "Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kỳ mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng". Nhà văn gọi sông Đà là "cố nhân" - người bạn cũ - thể hiện tình yêu thiết tha với thiên nhiên đất nước.
→ Vẻ đẹp sông Đà trữ tình là kết quả của con mắt nghệ sĩ và tình yêu quê hương đất nước sâu sắc.
Câu 3: Phân tích hình tượng người lái đò
Trả lời:
Ông lái đò là nhân vật trung tâm - người chiến thắng sông Đà bằng tài năng và lòng dũng cảm.
Ngoại hình: "Tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại như kẹp lấy một cái cuống lái tưởng tượng" - dáng dấp đặc trưng của người lái đò gắn bó với nghề suốt đời. Hai cánh tay "vẫn còn trẻ tráng quá", "vai vạm vỡ, da thịt như chất sừng chất mun".
Tính cách - tài năng:
- Hiểu sông Đà như "thuộc binh pháp của thần sông thần đá": nhớ tỉ mỉ tất cả luồng nước, cửa sinh cửa tử của các thạch trận.
- Dũng cảm phi thường: trong cuộc vượt thác, ông "ghì cương lái", "miết một cái thẳng cánh" tránh được luồng tử, "đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra".
- Bình tĩnh - chuyên nghiệp: sau khi chiến thắng, ông và bạn lại "đốt lửa nướng cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ cá dầm xanh" - không hề nhắc tới chiến công vừa qua. Sự khiêm tốn, coi chiến công là việc thường ngày.
Ý nghĩa nhân vật: Ông lái đò là "người nghệ sĩ" trong nghệ thuật vượt thác - khái niệm thẩm mỹ riêng của Nguyễn Tuân. Ông biểu trưng cho người lao động Việt Nam thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội - vừa anh hùng vừa nghệ sĩ, tài hoa và dũng cảm trong công việc thường ngày.
Soạn bài ngắn nhất
Câu 1: Sông Đà hung bạo
Nguyễn Tuân khắc hoạ sông Đà hung bạo qua đá bờ sông "dựng vách thành", ghềnh Hát Loóng "nước xô đá đá xô sóng", hút nước "thở và kêu như cửa cống cái bị sặc", thác đá "oán trách, van xin, khiêu khích, chế nhạo". Đặc biệt thạch trận ba trùng vi được miêu tả như chiến trường có cửa sinh cửa tử, lính đá quay vô lăng đánh đô vật. Sông Đà hiện lên như kẻ thù nham hiểm, có cá tính độc ác riêng.
Câu 2: Sông Đà trữ tình
Nhìn từ máy bay, sông Đà "tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình" giữa mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo. Nước sông biến đổi theo mùa: xuân xanh ngọc bích, thu lừ lừ chín đỏ. Bờ sông hoang dại "như bờ tiền sử", "hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích". Nguyễn Tuân gọi sông Đà là "cố nhân" - bạn cũ - với tình yêu thiết tha. Vẻ đẹp trữ tình là kết quả con mắt nghệ sĩ và tình yêu đất nước.
Câu 3: Người lái đò
Ông lái đò là người chinh phục sông Đà bằng tài năng và dũng cảm. Ông thuộc tất cả luồng nước, cửa sinh cửa tử của thạch trận. Trong cuộc vượt thác, ông bình tĩnh ghì cương lái, đè sấn luồng đá, "miết một cái thẳng cánh" tránh tử cửa. Sau chiến thắng, ông không khoe chiến công, chỉ bàn về cá anh vũ - vẻ đẹp khiêm tốn của người lao động. Ông lái đò là "nghệ sĩ" trong nghệ thuật vượt thác - biểu trưng của con người Việt Nam mới.
Soạn bài siêu ngắn
Câu 1: Sông Đà hung bạo
- Đá bờ: "dựng vách thành", hẹp như "yết hầu"
- Ghềnh Hát Loóng: "nước xô đá, đá xô sóng"
- Hút nước: "thở như cửa cống bị sặc"
- Thác đá: "oán trách, van xin, khiêu khích"
- Thạch trận: 3 trùng vi, có cửa sinh tử như chiến trường
- → Sông Đà = kẻ thù nham hiểm có cá tính độc ác
Câu 2: Sông Đà trữ tình
- Từ máy bay: "tuôn dài như áng tóc trữ tình"
- Màu: xuân xanh ngọc bích, thu chín đỏ
- Bờ sông: "hoang dại như bờ tiền sử"
- Tác giả gọi sông là "cố nhân"
- → Vẻ đẹp nghệ sĩ + tình yêu đất nước
Câu 3: Người lái đò
- Thuộc binh pháp sông Đà như lòng bàn tay
- Vượt thác: ghì cương lái, đè sấn đá, miết thẳng cánh
- Sau chiến thắng: chỉ bàn cá anh vũ, không khoe
- → "Nghệ sĩ" vượt thác, biểu tượng con người mới
Phân tích nhân vật
Phân tích hình tượng ông lái đò
Hoàn cảnh: Người lái đò ở vùng sông Đà - làm nghề suốt đời, gắn bó với từng khúc sông, từng tảng đá.
Phẩm chất:
- Tài năng: hiểu sông Đà như thuộc binh pháp - thuộc lòng tất cả luồng nước, cửa sinh tử, đặc điểm từng thạch trận.
- Dũng cảm: trong cuộc vượt thác qua ba trùng vi, ông bình tĩnh đối phó với từng luồng nước hung dữ, biến mỗi pha vượt thác thành màn nghệ thuật.
- Khiêm tốn: sau chiến thắng vĩ đại không hề nhắc đến chiến công, chỉ bàn về cá - vẻ đẹp của người lao động chân chính.
Ý nghĩa biểu tượng: Ông lái đò là biểu trưng cho con người Việt Nam thời kỳ xây dựng đất nước - tài hoa, dũng cảm, anh hùng trong công việc thường ngày, không cần huy chương.
Đặc sắc bút pháp Nguyễn Tuân
- Tài hoa uyên bác: vận dụng kiến thức từ binh pháp, võ thuật, âm nhạc, hội họa, điện ảnh, địa lý để miêu tả sông Đà.
- Tính tạo hình cao: mỗi đoạn văn như một bức tranh có chiều sâu, ánh sáng, màu sắc.
- Ngôn ngữ giàu nhịp điệu: điệp ngữ, phép so sánh độc đáo, câu văn dài có nhịp như câu thơ.
- Cái nhìn nghệ sĩ: sự vật và con người đều được nhìn ở phương diện thẩm mỹ.
Giá trị nội dung
- Ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc: sông Đà vừa hung vĩ vừa thơ mộng, là biểu tượng của đất nước.
- Ca ngợi con người lao động: ông lái đò là người anh hùng - nghệ sĩ trong thời đại mới.
- Tình yêu quê hương: thể hiện tình yêu thiết tha với thiên nhiên và con người đất nước.
Giá trị nghệ thuật
- Thể tuỳ bút phóng khoáng kết hợp miêu tả, kể chuyện, suy ngẫm.
- Ngôn ngữ phong phú, sáng tạo, đậm cá tính Nguyễn Tuân.
- Phép so sánh, nhân hoá độc đáo biến cảnh vật thành sinh thể có cá tính.
- Hai vẻ đẹp đối lập của sông Đà được khắc hoạ song hành tạo nên cấu trúc cân đối.
Câu hỏi thường gặp
Q: Người lái đò sông Đà của tác giả nào? A: Nguyễn Tuân (1910-1987) - nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại, được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996.
Q: Tác phẩm được sáng tác trong hoàn cảnh nào? A: In trong tập tuỳ bút Sông Đà (1960), kết quả chuyến đi thực tế Tây Bắc của Nguyễn Tuân năm 1958-1960.
Q: Sông Đà được miêu tả ở những phương diện nào? A: Hai phương diện đối lập - hung bạo (đá bờ sông, ghềnh, hút nước, thác đá, thạch trận) và trữ tình (sông như áng tóc, màu nước biến đổi, bờ sông hoang dại như tiền sử).
Q: Vì sao Nguyễn Tuân gọi sông Đà là "cố nhân"? A: "Cố nhân" nghĩa là người bạn cũ. Cách gọi này thể hiện tình yêu thiết tha của nhà văn với sông Đà - không chỉ là cảnh vật mà là người thân thiết.
Q: Hình tượng ông lái đò mang ý nghĩa gì? A: Ông lái đò là biểu tượng của người lao động Việt Nam thời kỳ xây dựng đất nước - tài hoa, dũng cảm, anh hùng và nghệ sĩ trong công việc thường ngày.
Q: Đặc sắc nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong tác phẩm là gì? A: Bút pháp tài hoa uyên bác - vận dụng kiến thức nhiều ngành (binh pháp, võ thuật, hội họa, điện ảnh, địa lý) để miêu tả; ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp điệu; cái nhìn nghệ sĩ với mọi sự vật và con người.